TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Việt Nam chưa có làng đại học đúng nghĩa

Giáo dục đại học Việt Nam đang hội nhập sâu với thế giới nhưng vẫn đứng trước nhiều câu hỏi, từ hình thức tuyển sinh, chất lượng giảng dạy, chất lượng đầu ra, và cả vấn đề quy hoạch các trường đại học tập trung để phát huy được hết giá trị cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu đào tạo... Trong đó, cụm từ “khu đô thị đại học”, hay “làng đại học” đã được hình thành, thảo luận và triển khai tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, thực tiễn diễn ra không như mong muốn, việc đổi mới giáo dục đại học và cơ sở giảng dạy chuyển biến rất chậm. Phóng viên Người Đô Thị đã có cuộc trao đổi với TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn về việc tổ chức quy hoạch kiến trúc cho các làng đại học tương lai tại Việt Nam.

TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn
                                                           
                                                        
Xây dựng làng đại học đẳng cấp quốc tế có vẻ không chỉ là vấn đề của kiến trúc mà còn liên quan đến công cuộc xây dựng, phát triển và nâng tầm giáo dục đại học. Ông có ý kiến gì về cách đặt vấn đề này?

Thực ra, những đại học hàng đầu như Harvard và Berkeley đều chưa bao giờ tự xưng là những đại học đẳng cấp quốc tế. Do vậy, nếu chúng ta làm đúng theo tiêu chí cần có của một làng đại học “tử tế” và “đúng nghĩa”, thì bản thân nó đã được coi là có “đẳng cấp quốc tế” rồi. Mô hình này chỉ được phát huy hiệu quả trên tiền đề thay đổi tư duy triết lý giáo dục phù hợp hơn và mang tính hội nhập quốc tế nhiều hơn so với hiện nay. Cụ thể là cần thay đổi phương pháp giáo dục nghiên cứu và giảng dạy từ hình thức đơn ngành và nặng về tư duy chuyên sâu (mô hình cổ điển) sang hình thức đa ngành và thiên về tư duy toàn diện trên cơ sở các phương pháp luận khoa học (mô hình tiên tiến). Trong đó:

Thứ nhất, ta nên bỏ hai kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và tuyển vào đại học, thay bằng một kỳ thi trắc nghiệm duy nhất (giống như kỳ thi đánh giá ở Mỹ SAT hoặc GRE), trong đó các câu hỏi phải là bao gồm tất cả các môn học chính của cả bốn khối, nhằm đánh giá khả năng tư duy về nhiều mặt của thí sinh hơn là kỹ năng giải đáp các môn học chủ đạo.

Thứ hai, luận văn tốt nghiệp cấp thạc sĩ và tiến sĩ buộc phải có ít nhất một giảng viên hướng dẫn chính của chuyên ngành chính, và hai giảng viên hướng dẫn phụ từ chuyên ngành khác với chuyên ngành chính của thí sinh. Điều này buộc nghiên cứu sinh phải có cái nhìn tổng thể và bao quát đa ngành hơn về chuyên ngành của mình khi phân tích tổng hợp các vấn đề.

Thứ ba, coi trọng việc giảng dạy phương pháp luận, phân tích tổng hợp, nâng cao dần từ trình độ cử nhân trở lên. Giảng viên chỉ hướng dẫn sinh viên cách hợp tác nhóm và tự tìm tòi nghiên cứu từ thư viện, giải đáp các câu hỏi, và hỗ trợ sinh viên khi cần thiết, chứ không tập trung giảng dạy kiến thức trên lớp như cách làm ở trường phổ thông.

Đó là những tiền đề quan trọng, để các nhà quản lý giáo dục nhìn thấy được vai trò cấp thiết của việc tổ chức xây dựng mô hình làng đại học trong quá trình nâng tiêu chuẩn đại học Việt lên tầm quốc tế, mà trong đó các thư viện, các phòng lab, và các khu vực giao lưu sinh hoạt và hợp tác nghiên cứu chung cho tất cả các phân khoa, chứ không phải các lớp học hay văn phòng điều hành, mới là trái tim của làng đại học.

Ông từng là thành viên nhóm thiết kế tổng mặt bằng quy hoạch kiến trúc cho một số đại học Mỹ và là thành viên Hội đồng tư vấn Đại học Hoa Sen và dự án Đại học Trí Việt. Trong buổi nói chuyện gần đây, ông cũng bộc bạch thực trạng Việt Nam vẫn chưa có đại học nào đủ cơ sở vật chất ở tầm quốc tế. Theo ông, đâu là nguyên nhân? Khó khăn lớn nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt, tập trung giải quyết khi thực hiện mục tiêu đó là gì?

Theo tôi có ba khó khăn lớn nhất làm cho chương trình phát triển các đại học quốc gia tại Việt Nam, dù có một số tiến bộ nhất định, đến nay vẫn chưa tạo lập được một làng đại học đúng nghĩa, cho dù ở quy mô nhỏ.

Thứ nhất, ngân sách cho đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu còn rất hạn chế, do đó không những cơ sở vật chất cho giảng dạy nghiên cứu còn thiếu thốn nhiều, mà lương của giảng viên vẫn không đủ sống để họ chuyên tâm vào công tác giáo dục và nghiên cứu. Sinh viên nghèo chưa được hỗ trợ đúng mức.

Thứ hai, là các nhà quản lý của các trường đại học thành viên vẫn nặng tư duy cá nhân, mỗi trường chiếm lãnh địa và quyền lực riêng của mình, chứ chưa hoạt động phối hợp với nhau trong làng đại học như một thực thể duy nhất hỗ trợ lẫn nhau về mọi mặt, bao gồm quản lý, và liên thông các hoạt động nghiên cứu giảng dạy với nhau.

Thứ ba, các nhà quản lý có phần lúng túng vì cho đến nay chưa có làng đại học nào kiến tạo được, hoặc ít nhất là lập được một kế hoạch khả thi, cho việc phối hợp tốt với khu vực xung quanh, nhất là về mặt chức năng sử dụng và kết nối, để từng bước tạo nên khung sườn cho việc phát triển toàn cục, trở thành một khu đô thị đại học trong tương lai.

Để đưa ra một lời giải hoàn chỉnh cho khúc mắc ấy, cần phải có những điều kiện gì? Mô hình làng đại học ở Việt Nam như thế nào là phù hợp với xu thế thế giới và điều kiện nước ta?

Việt Nam nên xây dựng ít nhất ba đại học quốc gia tại ba làng đại học chính của các vùng đô thị quan trọng ở miền Bắc, Trung và Nam. Cụ thể là tại Hà Nội, TP.HCM, và Huế hoặc Đà Nẵng. Trong đó các trường thành viên phải được quản lý và tổ chức như một thể thống nhất, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu của toàn bộ giảng viên và sinh viên chứ không chỉ cho sinh viên của trường thành viên.

Trên thế giới, làng đại học có thể theo mô hình tập trung trên một khu đất lớn vài trăm ha ở ngoại ô (như Đại học Berkeley và British Columbia), hoặc theo mô hình các khu phố trong trung tâm đô thị (như Harvard và Columbia), hoặc phối hợp cả hai loại hình trên (Đại học Quốc gia Úc ở Canberra và Đại học Washington). Mô hình quy hoạch trong trung tâm đô thị như Harvard thường không phù hợp ở Việt Nam vì giá đất và mật độ dân số khu trung tâm thường rất cao, do đó không chỉ làm tăng đáng kể chi phí giáo dục và tăng khó khăn về quản lý, mà còn làm tăng ô nhiễm và ách tắc giao thông đô thị.

Làng đại học Berkeley. Ảnh Philip Greenspun

Các đại học quốc gia này cũng cần phải được kết nối với một cơ sở phụ dùng chung cho các trường thành viên tại khu trung tâm Hà Nội, TP.HCM, Huế hoặc Đà Nẵng bằng hệ thống giao thông công cộng thuận tiện (metro hoặc xe buýt nhanh), nhằm tạo điều kiện thuận lợi về nghiên cứu, giao lưu quốc gia và quốc tế, và thực hành cho giảng viên và sinh viên.

Do mô hình làng đại học khá mới mẻ với Việt Nam, có vẻ trung tâm quản lý và phát triển khu đô thị ĐHQG TP.HCM vẫn vừa làm, vừa học, vừa điêu chỉnh cho phù hợp thực tiễn... Ông có tin tưởng mô hình này?

Theo tôi quan sát thực địa, ĐHQG TP.HCM vẫn đang được quản lý và vận hành như một tổ hợp gồm nhiều trường thành viên hoạt động riêng rẽ (không thực sự hợp tác về giảng dạy và nghiên cứu một cách hiệu quả, theo đúng nghĩa của một làng đại học) và phân tán (phần thì ở Thủ Đức, phần thì rải rác ở TP.HCM). Thậm chí nhiều trường thành viên tại làng đại học Thủ Đức còn xây dựng hàng rào kiên cố và cổng vào riêng khá hoành tráng. Phần ranh giới với khu dân cư xung quanh đang phát triển tự phát, không an ninh. Quy hoạch kiến trúc hiện nay không tạo được bản sắc riêng, và không có hệ thống giao thông đối nội và đối ngoại rõ ràng và thuận tiện. Có thể nói chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trước mắt, để xây dựng một làng đại học thực sự đúng nghĩa tại đây.

Qua trao đổi với nhiều chuyên gia quốc tế, việc xây dựng một làng đại học quốc gia với kinh phí khiêm tốn hoàn toàn khả thi tại Việt Nam, miễn chúng ta biết ưu tiên tài lực và nhân lực cho các vấn đề cốt lõi. Nên ưu tiên kinh phí xây dựng hệ thống thư viện và phòng lab (vi tính, thí nghiệm khoa học, học sinh ngữ theo phương pháp nghe nhìn...) và hệ thống thông tin mạng với trang bị hiện đại. Bởi chính chất lượng của hệ thống cung cấp thông tin cho nghiên cứu và các phương tiện hiện đại để bảo quản tư liệu và truy cập hữu hiệu, chứ không phải bề ngoài hào nhoáng của các công trình kiến trúc, mới là nhân tố chính, thúc đẩy một làng đại học phát triển lên tầm quốc tế.

Do đi sau, Việt Nam lại có những lợi thế đặc biệt trong việc quy hoạch làng đại học, như có thể hoạch định các chiến lược và chiến thuật phát triển những làng đại học trong tương lai theo các tiêu chí kiến trúc xanh và bền vững, tiết kiệm năng lượng, mà cả thế giới đang hướng tới.

Trung Dũng thực hiện

Trận mưa lịch sử cảnh báo TP HCM chống ngập sai cách

Theo TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn, trận mưa lịch sử 5 hôm trước như là lời cảnh báo về cách chống ngập từ xưa đến giờ không hiệu quả và cần thay đổi tư duy.

- Trận mưa hôm 26/9 khiến TP HCM ngập nặng, ông đánh giá thế nào về 5 nguyên nhân thành phố chỉ ra nặng như: cống quá nhỏ, người dân xả rác gây tắc hệ cống thoát nước...?

Những nguyên nhân này không mới, như việc người dân xả rác lấn chiếm kênh rạch là từ mấy chục năm rồi. Ở góc độ quản lý, thành phố phải vận động mọi người cùng giữ vệ sinh nhưng đồng thời cũng phải định vị những khu vực hay bị nghẽn rác, có những đội ứng cứu đảm bảo cống không bị ngăn dòng chảy... chứ không thể cứ đổ cho ý thức người dân.

Chuyện cống nhỏ cũng có nhiều cách giải quyết, đơn giản là cải tạo to ra. Không có tiền vẫn có thể xử lý bằng cách điều chỉnh dòng chảy không cho nước tụ về một nơi nhanh quá.

Có một điểm quan trọng nằm ngoài tầm của cơ quan chống ngập đó là mật độ xây dựng, bê tông hóa quá cao. Khi mưa xuống nước chỉ chảy trên bề mặt, không thẩm thấu, tốc độ chảy rất nhanh dồn xuống chỗ thấp thì gây ngập thôi.

TP HCM bị ngập nặng sau cơn mưa lịch sử chiều tối 26/9. Ảnh: Duy Trần

- Còn nguyên nhân do biến đổi khí hậu khiến vũ lượng mưa ngày càng lớn (trên 100 mm) và tần suất xuất hiện ngày càng nhiều (mỗi năm 3 lần) thì sao?

Theo tôi không phải thành phố ngập do mưa quá lớn, mà thật sự vì bề mặt thẩm thấu nước mưa bị thu hẹp. Nếu nói biến đổi khí hậu làm cho mưa ngày càng lớn thì các khu vực khác vì sao không ngập, trong khi mưa nhỏ nhiều nơi vẫn ngập. Thành phố vịn vào cớ mưa quá to nên bất lực là không đúng.

Dù cống chỉ chịu được 90 mm, song nếu mình có quy hoạch phù hợp, có hồ điều tiết, kênh rạch, khống chế được dòng chảy thì sẽ không bị ngập.

Nước từ chỗ cao chảy xuống thấp tốc độ rất nhanh, lại chảy tràn trên mặt như vậy thì không đường cống nào chịu nổi. Giờ thành phố có làm cống 200 mm đi nữa vẫn ngập như thường, đây là do thiếu sự phối hợp. Vấn đề giải quyết ngập không phải là mưa bao nhiêu mm mà là tổng hợp liên quan đến quy hoạch, nhiều sở ngành.

Ví dụ như nâng đường mà không nâng nhà là đã gây ngập rồi. Hay quận Bình Thạnh là vùng thấp, giờ mình cho xây nhiều khu nhà, khu đô thị cao tầng thì tất nhiên những khu đó ít ngập, vì nền cao hơn do xây sau. Nhưng nó sẽ gây ngập cho khu vực xung quanh. Cũng như kẹt xe, thấy chỗ nào tắc thì mình xây cầu, mở rộng đường nhưng thực chất chỉ là việc chuyển kẹt xe từ nơi này sang nơi khác, không giải quyết được triệt để.

- Là chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch và thiết kế, giảng viên đại học tại Bắc Mỹ, ông đánh giá thế nào về việc chống ngập của TP HCM hiện nay?

Ngập là vấn đề khoa học, không mông lung như xã hội nên hoàn toàn có thể giải quyết được. Bằng chứng là nhiều nước đã thành công trong việc chống ngập, như Hà Lan, Nhật Bản, Thái Lan…

Chúng ta hoàn toàn có thể tính được lượng mưa xuống bao nhiêu mm trong năm; thấp nhất, cao nhất bao nhiêu và khi mưa xuống bề mặt bê tông hóa là bao nhiêu; diện tích mặt nước, cây xanh, hồ điều tiết, dung lượng cống ra sao... Nếu có những thông số này thì theo khoa học mình sẽ tính được hết.

Trung tâm chống ngập đang tập trung vào việc cố gắng giảm các điểm bị ngập nhưng bao nhiêu năm vẫn không hiệu quả. Vì xóa chỗ này thì nó xuất hiện chỗ khác. Vấn đề chính là nước mưa trên trời rơi xuống, phải đưa chúng ra lại kênh rạch mà không làm ảnh hưởng đến đô thị. Trọng tâm không phải giải quyết những điểm ngập mà là vấn đề thoát nước cho toàn địa bàn thành phố. Mình sẽ điều chỉnh tốc độ chảy, hướng chảy và có những khu vực tạm chứa nước để bơm ra sông. Nó là một bài toán khoa học và vượt quá tầm của trung tâm chống ngập rồi.

- TP HCM cần làm gì để chống ngập hiệu quả?

Trận mưa lớn nhất trong 40 năm qua đã gây thiệt hại lớn cho người dân, song nó là điều may mắn khi cảnh báo cách chống ngập của thành phố không hiệu quả. Thành phố nên xem lại cách tiếp cận và thay đổi tư duy về vấn đề này. Tức là phải xây dựng một kịch bản hoàn chỉnh, nên lùi một bước để nghiên cứu lại chiến lược chống ngập một cách toàn diện, trong đó có chương trình chống ngập cụ thể cho từng vùng.

Hiện, thành phố vẫn còn lúng túng vì các sở ngành chưa phối hợp với nhau. Vấn đề thoát nước ảnh hưởng đến rất nhiều sở ngành từ giao thông vận tải, xây dựng đến quy hoạch, tài chính... Cần giao một Phó chủ tịch UBND nhận trách nhiệm, lãnh đạo các ban ngành vào cuộc, do cấp sở ngành hay trung tâm chống ngập không đủ quyền điều hành các đơn vị khác.

- TP HCM ngày càng ngập nặng được cho là do sai lầm trong quy hoạch xây dựng khi xóa sổ kênh rạch ở quận 7, Nhà Bè để xây các khu đô thị mới, trong khi đây là nhưng "lá phổi" thoát nước cho thành phố.

Cách nhìn như thế là không đúng. Một đô thị lớn như TP HCM lúc trước không phát triển về phía Nam là do mắc sông Sài Gòn, khó khăn và tốn kém cho việc xây cầu; thứ hai là do chiến tranh, bắc qua sẽ bị phá. Lúc đó thành phố chưa phát triển nhiều, chỉ vài triệu người thì không việc gì phải xây dựng xuống phía Nam – vùng đất thấp cho tốn kém. Bây giờ thành phố hơn 10 triệu dân rồi, hòa bình rồi thì phát triển về phía Nam là tất yếu.

Nhìn ra thế giới, nhiều thành phố có quy mô, địa hình giống TP HCM như Thượng Hải (Trung Quốc), London (Anh)… người ta vẫn xây dựng, kể cả vùng đất thấp. Nhưng có một lý do họ hơn mình là quy hoạch ở vùng đất thấp khác, cao khác. Vấn đề là do mình quản lý kém để cho người dân lấn chiếm, lấp ao hồ, kênh rạch.

Hữu Công