Từ Sài Gòn đến Tiểu Sài Gòn


Ln đầu tiên tôi nghe đến địa danh Tiu Sài Gòn (Little Saigon) là t Sam, mt nhà báo M nói sõi tiếng Vit, làm vic cho t Vietnam Economic Times ti Hà Ni. Sam có v rt thích nơi đây, nói rng đã đến California thì không th không thăm Little Saigon, mt khu vc khong 4 dm vuông, thuc Qun Cam (Orange County), nơi có nhiu người Vit sng nht ngoài nước Vit Nam.

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi đến Tiểu Sài Gòn là sự cảm phục những người tiên phong, đa số đến Mỹ với hai bàn tay trắng, chỉ sau vài chục năm đã cùng nhau xây dựng một vùng đất hoang sơ thành khu đô thị sầm uất, được chính thức mang tên Little Saigon trên bản đồ tiểu bang California từ năm 1988.

Nhờ có khí hậu ôn hòa và điều kiện sống tốt, California rất sớm đã trở thành một trong những nơi sống ưa thích nhất của người Việt hải ngoại. Tiểu Sài Gòn được người Việt di cư từ Việt Nam sang Mỹ bắt đầu tạo nên từ sau 1975 tại vùng đất dọc Đại lộ Bolsa. Khu trung tâm lịch sử của Tiểu Sài Gòn, do đó, là khu vực gồm những công trình nằm trên Đại lộ Bolsa, bao quanh khu chợ Phước Lộc Thọ, có giá trị như khu phố dọc đại lộ Lê lợi và quanh chợ Bến Thành của Sài Gòn.


Quầy hàng Tết của người Việt trước khu chợ Phước Lộc Thọ

Mặc dù đất ở khu vực này đa số do người Hoa hoặc người Việt gốc Hoa làm chủ, họ vẫn phải tôn trọng ý nghĩa tinh thần và bản sắc của khu vực này đối với người Việt hải ngoại. Do vậy mà cho dù kiến trúc ban đầu của khu Phước Lộc Thọ và khu lân cận mang nhiều ảnh hưởng kiến trúc Trung Hoa, ngày nay đa số người dân Little Saigon đều mong muốn mọi chỉnh trang sau này của khu vực lịch sử này phải mang bản sắc Việt. Từng có dự án cải tạo cao tầng hóa khu Phước Lộc Thọ và khu thương mại đối diện bên kia đường, nối với nhau bằng một cầu nổi đi bộ, nhưng dự án gặp phải sự phản đối mãnh liệt của người dân, vì kiến trúc mới mang nặng dấu ấn Trung Hoa, nên sau đó đã phải thay đổi theo yêu cầu của cộng đồng.

Muốn hiểu những sinh hoạt đặc biệt của Tiểu Sài Gòn, bạn cần có sự hướng dẫn của người dân địa phương. Nhờ có chú Xiêm, tôi biết được nơi có thể vừa thưởng thức tách cà phê thơm nóng với bánh sừng trâu đúng kiểu Pháp tại quán Croissant Doré, vừa đọc báo vừa nghe người xung quanh sôi nổi bàn chuyện thời sự, giống như thường thấy tại Brodard trên đường Tự Do ngày xưa. Sau đó, có thể thoải mái sang chơi một ván cờ với một người bạn mê cờ không quen tại khu vực sân trước Phước Lộc Thọ, vừa nhâm nhi trà vừa ngắm người xung quanh đi mua sắm, giống như tôi từng ngồi quán cóc ở Chợ Lớn chơi cờ thế với một ông bạn người Hoa. Người không biết tiếng Anh từ Việt Nam sang sẽ có thể an tâm dạo quanh, vì luôn có thể hỏi thông tin từ một người nào đó trên đường bằng tiếng Việt.





Tuấn, em họ của tôi, lại cho tôi biết được cuộc sống năng động khác của giới trẻ. Như nhiều người bạn cần cù khác, Tuấn nhận một lúc nhiều việc để giúp trang trải cuộc sống gia đình, và dành dụm mua nhà cho cha mẹ và vợ con. Ban ngày Tuấn làm quản lý phòng vi tính cho một trường đại học cộng đồng, chiều đi làm chuyên viên cho một công ty máy tính, còn tối về nhà làm thêm trên mạng cho một công ty khác. Điều thú vị là người đàn ông Huế, nổi tiếng gia trưởng ở miền Trung, khi đến Mỹ, đa số trở thành những người chồng biết nấu ăn và biết đỡ đần vợ trong công việc nhà, trong khi vẫn làm việc vất vả hàng ngày.

Tuy người ta mặc nhiên xem khu Phước Lộc Thọ và lân cận là khu trung tâm của Tiểu Sài Gòn, nhưng không nhiều người dân chọn khu vực này để sống, mà chỉ chủ yếu đến mua sắm và ăn uống vào cuối tuần. Đa số người Mỹ gốc Việt của Tiểu Sài Gòn chọn sống quần cư ở những khu dân cư xung quanh tại Westminster, Santa Ana, Garden Grove... Một bộ phận không nhỏ người Việt khá giả và hội nhập tốt với cuộc sống Mỹ, lại chọn sống ở những khu dân cư cao cấp nơi đa số dân là người Mỹ trắng, như Huntington Beach, New Port Coast, hoặc khu trung tâm Los Angeles.

Khi thầy Nghiêm Phú Phi còn sống, mỗi lần đến Tiểu Sài Gòn, tôi đều đến thăm vợ chồng thầy tại trường nhạc của thầy tại khu ABC trên Đại lộ Bolsa, cạnh trường dạy hát của cô Thái Thanh. Chúng tôi thường cùng uống trà, hỏi thăm những người quen cũ thời tôi còn học đàn với thầy tại nhà và tại nhà thờ Huyện Sỹ ở Việt Nam, và nghe thầy kể về cuộc sống yên bình của thầy với con cháu. Yến, con gái thầy, nay đã là một giáo sư dương cầm nổi tiếng, tiếp tục truyền thống dạy nhạc của gia đình.

Ở TP.HCM, trước vấn nạn kẹt xe và ngập lụt, nhiều chuyên gia nhận định hai trong số những nguyên nhân chính, là do phát triển đô thị thiếu kiểm soát không tương ứng với hạ tầng đô thị hiện hữu, và do người dân xây dựng trái phép, thiếu ý thức giao thông, xả rác, và lấn chiếm kênh rạch. Nhưng cũng chính những người dân đó, khi di cư sang Tiểu Sài Gòn, bằng cách vượt biên hoặc theo các chương trình HO và ODP, lại có cuộc sống tuân thủ pháp luật và có ý thức cao. Như vậy, vấn đề nằm ở cách quản lý đô thị và phương pháp giáo dục, chứ không nằm ở bản chất con người Việt Nam. Tiểu Sài Gòn cho chúng ta nhiều bài học trực quan có giá trị có thể tham khảo, về những gì chúng ta nên làm để cải tổ quản lý đô thị và về giáo dục tại TP.HCM ngày nay.

Hiện nay, ngày càng có nhiều lãnh đạo dân cử gốc Việt nắm các chức vụ quan trọng trong chính quyền địa phương và chính quyền liên bang. Người Mỹ gốc Việt như người ta thường nói, giống như trái chuối vỏ vàng ruột trắng, dù song tịch hoặc gốc Việt, vẫn là người Mỹ dưới ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa Việt-Mỹ. Chức vụ càng cao, cơ hội càng nhiều, nhưng thử thách lại càng nhiều hơn, họ được kỳ vọng phải ý thức và hài hòa được trách nhiệm đa tầng, trước hết là bổn phận công dân đối với nước Mỹ, kế đến là trách nhiệm đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và cuối cùng nhưng cũng rất quan trọng, là đối với Việt Nam, quê cha đất tổ.

Tiểu Sài Gòn cho chúng ta nhiều bài học trực quan có giá trị có thể tham khảo, về những gì chúng ta nên làm để cải tổ quản lý đô thị và về giáo dục tại TP.HCM ngày nay.

Ngày xưa, cái tên “Tiểu Sài Gòn” chỉ dành cho khu đô thị của người Mỹ gốc Việt tại quận Cam, nhưng dần dần nó trở thành danh từ chung, giống như Chinatown, dùng để gọi tên cho nhiều khu đô thị của người Mỹ gốc Việt tại các thành phố khác, như Seattle, San Francisco, San Jose, Houston... Điều này nói lên ý nghĩa tuy sống xa quê hương, xa Sài Gòn, nhưng họ không bao giờ quên nguồn cội của mình.

Các Tiểu Sài Gòn tại đất Mỹ đang có xu hướng kết nối lại với nhau về mặt không gian và về hoạt động kinh tế xã hội. Thấy rõ nhất là giữa Tiểu Sài Gòn của quận Cam và Tiểu Sài Gòn của San Jose. Nhiều người làm việc như con thoi giữa hai vùng đô thị, phát triển nhiều doanh nghiệp ngày càng thành công. Điển hình có hệ thống xe đò Hoàng đủ tiện nghi với nhiều chuyến trong ngày, nối liền khu Phước Lộc Thọ ở quận Cam với khu Lion Plaza ở San Jose, ngày càng phát triển như một phương tiện giao thông ưa thích để đi lại thăm viếng nhau, đặc biệt là cho những người lớn tuổi sống ở hai đầu bang California.

Cuộc sống cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại đây rất đa dạng phong phú, đặc biệt là vào thời điểm Tết Nguyên Đán. Các chợ đêm cuối tuần tại khu Phước Lộc Thọ trở nên nhộn nhịp hơn. Các khu siêu thị chật cứng xe ra vào mua sắm Tết. Những buổi diễu hành, hội chợ, hoặc lễ mừng xuân, đón giao thừa được tổ chức thường xuyên tại Đại lộ Bolsa, các khu trung tâm dịch vụ thương mại, các chùa Việt, nhà thờ Việt, các trung tâm cộng đồng... trong đó nam thanh nữ tú trong các trang phục truyền thống, gợi nhớ không khí nhộn nhịp đón xuân của phố hoa Nguyễn Huệ và khu trung tâm Sài Gòn ngày xưa, TP.HCM ngày nay.

Sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, từng nếm trải đủ vị ngọt đắng của hòa bình và chiến tranh, của sung túc và túng thiếu trong thời kỳ trước và sau chiến tranh tại Việt Nam, tôi rất cảm thông với tâm tư của nhiều người Mỹ gốc Việt tại đây. Một mặt, họ tự hào với những thành tựu mà bản thân và con cháu đã và sẽ đạt được tại Mỹ, nơi ngày xưa chỉ có những gia đình rất khá giả mới có thể gửi con em đi du học. Mặt khác, họ không quên nỗi niềm khi phải bỏ đất nước ra đi, dù là vì chiến tranh, vì kinh tế, hay những lý do khác. Cho dù phải làm việc vất vả để hội nhập với cuộc sống Mỹ, họ vẫn không quên dành dụm giúp đỡ cho thân nhân bạn bè ở Việt Nam, thường xuyên theo dõi tin tức quê nhà, và luôn mong mỏi đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.

Tết Việt trên đất Mỹ với nhiều phong tục dân gian quen thuộc
Nhìn Tiểu Sài Gòn, tôi cảm nhận được sức sống vươn lên và tiềm năng một ngày không xa, khu vực này có thể trở nên một “Đại Sài Gòn” của thế kỷ XXI tại đất Mỹ, sầm uất như các khu Koreantown tại Los Angeles, Chinatown tại San Francisco hoặc New York, với các trung tâm cao tầng kinh tế tài chính, dịch vụ thương mại, y tế, và văn hóa xã hội.

Ngày nay, có lẽ đa số người Việt hải ngoại và người Việt trong nước đều hy vọng rằng một ngày nào đó rất gần, các bên có thể cùng đối thoại, cùng nhau tạo sự cảm thông, và cùng nhau thực hiện những dự án, những chương trình hành động tích cực, đáp ứng nguyện vọng và tâm tư của mọi người dân cả trong lẫn ngoài nước.

Lúc đó, tương lai có thể mở ra những viễn cảnh tươi sáng, trong đó có một nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh, đoàn kết với mạng lưới các đô thị của người Việt hải ngoại trên toàn thế giới, để sánh vai với các cường quốc ở châu Á.


Ngô Viết Nam Sơn - Ảnh Minh Cường

http://nguoidothi.vn/tu-sai-gon-den-tieu-sai-gon.ndt

TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Việt Nam chưa có làng đại học đúng nghĩa

Giáo dục đại học Việt Nam đang hội nhập sâu với thế giới nhưng vẫn đứng trước nhiều câu hỏi, từ hình thức tuyển sinh, chất lượng giảng dạy, chất lượng đầu ra, và cả vấn đề quy hoạch các trường đại học tập trung để phát huy được hết giá trị cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu đào tạo... Trong đó, cụm từ “khu đô thị đại học”, hay “làng đại học” đã được hình thành, thảo luận và triển khai tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, thực tiễn diễn ra không như mong muốn, việc đổi mới giáo dục đại học và cơ sở giảng dạy chuyển biến rất chậm. Phóng viên Người Đô Thị đã có cuộc trao đổi với TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn về việc tổ chức quy hoạch kiến trúc cho các làng đại học tương lai tại Việt Nam.

TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn
                                                           
                                                        
Xây dựng làng đại học đẳng cấp quốc tế có vẻ không chỉ là vấn đề của kiến trúc mà còn liên quan đến công cuộc xây dựng, phát triển và nâng tầm giáo dục đại học. Ông có ý kiến gì về cách đặt vấn đề này?

Thực ra, những đại học hàng đầu như Harvard và Berkeley đều chưa bao giờ tự xưng là những đại học đẳng cấp quốc tế. Do vậy, nếu chúng ta làm đúng theo tiêu chí cần có của một làng đại học “tử tế” và “đúng nghĩa”, thì bản thân nó đã được coi là có “đẳng cấp quốc tế” rồi. Mô hình này chỉ được phát huy hiệu quả trên tiền đề thay đổi tư duy triết lý giáo dục phù hợp hơn và mang tính hội nhập quốc tế nhiều hơn so với hiện nay. Cụ thể là cần thay đổi phương pháp giáo dục nghiên cứu và giảng dạy từ hình thức đơn ngành và nặng về tư duy chuyên sâu (mô hình cổ điển) sang hình thức đa ngành và thiên về tư duy toàn diện trên cơ sở các phương pháp luận khoa học (mô hình tiên tiến). Trong đó:

Thứ nhất, ta nên bỏ hai kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và tuyển vào đại học, thay bằng một kỳ thi trắc nghiệm duy nhất (giống như kỳ thi đánh giá ở Mỹ SAT hoặc GRE), trong đó các câu hỏi phải là bao gồm tất cả các môn học chính của cả bốn khối, nhằm đánh giá khả năng tư duy về nhiều mặt của thí sinh hơn là kỹ năng giải đáp các môn học chủ đạo.

Thứ hai, luận văn tốt nghiệp cấp thạc sĩ và tiến sĩ buộc phải có ít nhất một giảng viên hướng dẫn chính của chuyên ngành chính, và hai giảng viên hướng dẫn phụ từ chuyên ngành khác với chuyên ngành chính của thí sinh. Điều này buộc nghiên cứu sinh phải có cái nhìn tổng thể và bao quát đa ngành hơn về chuyên ngành của mình khi phân tích tổng hợp các vấn đề.

Thứ ba, coi trọng việc giảng dạy phương pháp luận, phân tích tổng hợp, nâng cao dần từ trình độ cử nhân trở lên. Giảng viên chỉ hướng dẫn sinh viên cách hợp tác nhóm và tự tìm tòi nghiên cứu từ thư viện, giải đáp các câu hỏi, và hỗ trợ sinh viên khi cần thiết, chứ không tập trung giảng dạy kiến thức trên lớp như cách làm ở trường phổ thông.

Đó là những tiền đề quan trọng, để các nhà quản lý giáo dục nhìn thấy được vai trò cấp thiết của việc tổ chức xây dựng mô hình làng đại học trong quá trình nâng tiêu chuẩn đại học Việt lên tầm quốc tế, mà trong đó các thư viện, các phòng lab, và các khu vực giao lưu sinh hoạt và hợp tác nghiên cứu chung cho tất cả các phân khoa, chứ không phải các lớp học hay văn phòng điều hành, mới là trái tim của làng đại học.

Ông từng là thành viên nhóm thiết kế tổng mặt bằng quy hoạch kiến trúc cho một số đại học Mỹ và là thành viên Hội đồng tư vấn Đại học Hoa Sen và dự án Đại học Trí Việt. Trong buổi nói chuyện gần đây, ông cũng bộc bạch thực trạng Việt Nam vẫn chưa có đại học nào đủ cơ sở vật chất ở tầm quốc tế. Theo ông, đâu là nguyên nhân? Khó khăn lớn nhất mà chúng ta sẽ phải đối mặt, tập trung giải quyết khi thực hiện mục tiêu đó là gì?

Theo tôi có ba khó khăn lớn nhất làm cho chương trình phát triển các đại học quốc gia tại Việt Nam, dù có một số tiến bộ nhất định, đến nay vẫn chưa tạo lập được một làng đại học đúng nghĩa, cho dù ở quy mô nhỏ.

Thứ nhất, ngân sách cho đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu còn rất hạn chế, do đó không những cơ sở vật chất cho giảng dạy nghiên cứu còn thiếu thốn nhiều, mà lương của giảng viên vẫn không đủ sống để họ chuyên tâm vào công tác giáo dục và nghiên cứu. Sinh viên nghèo chưa được hỗ trợ đúng mức.

Thứ hai, là các nhà quản lý của các trường đại học thành viên vẫn nặng tư duy cá nhân, mỗi trường chiếm lãnh địa và quyền lực riêng của mình, chứ chưa hoạt động phối hợp với nhau trong làng đại học như một thực thể duy nhất hỗ trợ lẫn nhau về mọi mặt, bao gồm quản lý, và liên thông các hoạt động nghiên cứu giảng dạy với nhau.

Thứ ba, các nhà quản lý có phần lúng túng vì cho đến nay chưa có làng đại học nào kiến tạo được, hoặc ít nhất là lập được một kế hoạch khả thi, cho việc phối hợp tốt với khu vực xung quanh, nhất là về mặt chức năng sử dụng và kết nối, để từng bước tạo nên khung sườn cho việc phát triển toàn cục, trở thành một khu đô thị đại học trong tương lai.

Để đưa ra một lời giải hoàn chỉnh cho khúc mắc ấy, cần phải có những điều kiện gì? Mô hình làng đại học ở Việt Nam như thế nào là phù hợp với xu thế thế giới và điều kiện nước ta?

Việt Nam nên xây dựng ít nhất ba đại học quốc gia tại ba làng đại học chính của các vùng đô thị quan trọng ở miền Bắc, Trung và Nam. Cụ thể là tại Hà Nội, TP.HCM, và Huế hoặc Đà Nẵng. Trong đó các trường thành viên phải được quản lý và tổ chức như một thể thống nhất, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu của toàn bộ giảng viên và sinh viên chứ không chỉ cho sinh viên của trường thành viên.

Trên thế giới, làng đại học có thể theo mô hình tập trung trên một khu đất lớn vài trăm ha ở ngoại ô (như Đại học Berkeley và British Columbia), hoặc theo mô hình các khu phố trong trung tâm đô thị (như Harvard và Columbia), hoặc phối hợp cả hai loại hình trên (Đại học Quốc gia Úc ở Canberra và Đại học Washington). Mô hình quy hoạch trong trung tâm đô thị như Harvard thường không phù hợp ở Việt Nam vì giá đất và mật độ dân số khu trung tâm thường rất cao, do đó không chỉ làm tăng đáng kể chi phí giáo dục và tăng khó khăn về quản lý, mà còn làm tăng ô nhiễm và ách tắc giao thông đô thị.

Làng đại học Berkeley. Ảnh Philip Greenspun

Các đại học quốc gia này cũng cần phải được kết nối với một cơ sở phụ dùng chung cho các trường thành viên tại khu trung tâm Hà Nội, TP.HCM, Huế hoặc Đà Nẵng bằng hệ thống giao thông công cộng thuận tiện (metro hoặc xe buýt nhanh), nhằm tạo điều kiện thuận lợi về nghiên cứu, giao lưu quốc gia và quốc tế, và thực hành cho giảng viên và sinh viên.

Do mô hình làng đại học khá mới mẻ với Việt Nam, có vẻ trung tâm quản lý và phát triển khu đô thị ĐHQG TP.HCM vẫn vừa làm, vừa học, vừa điêu chỉnh cho phù hợp thực tiễn... Ông có tin tưởng mô hình này?

Theo tôi quan sát thực địa, ĐHQG TP.HCM vẫn đang được quản lý và vận hành như một tổ hợp gồm nhiều trường thành viên hoạt động riêng rẽ (không thực sự hợp tác về giảng dạy và nghiên cứu một cách hiệu quả, theo đúng nghĩa của một làng đại học) và phân tán (phần thì ở Thủ Đức, phần thì rải rác ở TP.HCM). Thậm chí nhiều trường thành viên tại làng đại học Thủ Đức còn xây dựng hàng rào kiên cố và cổng vào riêng khá hoành tráng. Phần ranh giới với khu dân cư xung quanh đang phát triển tự phát, không an ninh. Quy hoạch kiến trúc hiện nay không tạo được bản sắc riêng, và không có hệ thống giao thông đối nội và đối ngoại rõ ràng và thuận tiện. Có thể nói chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trước mắt, để xây dựng một làng đại học thực sự đúng nghĩa tại đây.

Qua trao đổi với nhiều chuyên gia quốc tế, việc xây dựng một làng đại học quốc gia với kinh phí khiêm tốn hoàn toàn khả thi tại Việt Nam, miễn chúng ta biết ưu tiên tài lực và nhân lực cho các vấn đề cốt lõi. Nên ưu tiên kinh phí xây dựng hệ thống thư viện và phòng lab (vi tính, thí nghiệm khoa học, học sinh ngữ theo phương pháp nghe nhìn...) và hệ thống thông tin mạng với trang bị hiện đại. Bởi chính chất lượng của hệ thống cung cấp thông tin cho nghiên cứu và các phương tiện hiện đại để bảo quản tư liệu và truy cập hữu hiệu, chứ không phải bề ngoài hào nhoáng của các công trình kiến trúc, mới là nhân tố chính, thúc đẩy một làng đại học phát triển lên tầm quốc tế.

Do đi sau, Việt Nam lại có những lợi thế đặc biệt trong việc quy hoạch làng đại học, như có thể hoạch định các chiến lược và chiến thuật phát triển những làng đại học trong tương lai theo các tiêu chí kiến trúc xanh và bền vững, tiết kiệm năng lượng, mà cả thế giới đang hướng tới.

Trung Dũng thực hiện